Đứng trước tủ kính áp tròng, người mới thường thấy một rừng tên sản phẩm và không biết bắt đầu từ đâu. Thực ra chỉ cần phân theo hai trục: chất liệu cứng hay mềm, và thay bao lâu một lần. Hai trục đó đã bao gần hết các lựa chọn.
Kính mềm, nhóm phổ biến nhất
- Chất liệu ngậm nước, mềm và dẻo
- Đường kính lớn hơn giác mạc nên phủ cả phần rìa
- Ổn định trên mắt, ít xê dịch khi chớp
- Thời gian làm quen ngắn, nhiều người thấy dễ chịu ngay lần đầu
- Dễ rách hơn và tuổi thọ ngắn hơn kính cứng
Đây là nhóm chiếm phần lớn thị trường và cũng là nhóm phù hợp với đa số nhu cầu thông thường.
Chất liệu ngậm nước và chất liệu silicone
- Loại ngậm nước truyền thống cho oxy đi qua nhờ lượng nước trong kính
- Loại silicone cho oxy đi qua tốt hơn nhiều mà không cần nhiều nước
- Nhiều nước không đồng nghĩa với dễ chịu hơn
- Kính nhiều nước có thể hút nước mắt và làm khô mắt ở một số người
- Bác sĩ chọn dựa trên tình trạng nước mắt của từng người
Đây là chỗ hay bị hiểu ngược. Người khô mắt đôi khi hợp với loại ít nước hơn chứ không phải nhiều nước hơn.
Kính cứng thấm khí
- Nhỏ hơn kính mềm, chỉ phủ phần giữa giác mạc
- Giữ hình dạng cố định nên cho quang học ổn định
- Cho oxy đi qua rất tốt
- Nước mắt lưu thông dưới kính khi chớp
- Cần vài tuần để làm quen vì cảm giác cộm lúc đầu
- Bền và dùng được lâu hơn hẳn kính mềm
Nhóm này ít phổ biến hơn nhưng có chỗ đứng vững ở những trường hợp kính mềm không giải quyết tốt.
Khi nào kính cứng là lựa chọn hợp lý hơn
- Loạn thị cao hoặc loạn thị không đều
- Giác mạc có hình dạng bất thường
- Sau một số phẫu thuật hoặc chấn thương giác mạc
- Người cần độ nét cao nhất có thể
- Người dùng kính mềm mà vẫn không đạt thị lực mong muốn
Những trường hợp này cần bác sĩ chuyên khoa đánh giá và lắp thử, không phải chuyện mua sẵn theo thông số.
Kính lai và kính củng mạc
- Kính lai có phần giữa cứng và phần rìa mềm
- Nhằm kết hợp độ nét của kính cứng với sự dễ chịu của kính mềm
- Kính củng mạc có đường kính lớn, tì lên phần củng mạc thay vì giác mạc
- Tạo một lớp dịch giữa kính và giác mạc
- Dùng cho các trường hợp giác mạc bất thường hoặc khô mắt nặng
Đây là nhóm chuyên biệt, luôn cần chỉ định và lắp thử tại cơ sở chuyên khoa.
Chế độ thay theo ngày
- Mỗi ngày một cặp mới, hết ngày bỏ đi
- Không cần dung dịch ngâm, không cần khay đựng
- Giảm hẳn nguy cơ do vệ sinh sai quy trình
- Không có cặn tích tụ vì không dùng lại
- Tiện cho người chỉ đeo thỉnh thoảng
- Chi phí theo ngày cao hơn nếu đeo mỗi ngày
Về mặt an toàn, đây là chế độ ít chỗ để sai nhất. Với người hay quên hoặc hay đi công tác, nó giải quyết được nhiều rủi ro.
Chế độ thay theo hai tuần và theo tháng
- Dùng lại mỗi ngày, tháo ra ngâm rửa mỗi tối
- Bỏ đi sau đúng số ngày quy định kể từ lần mở vỉ
- Chi phí theo ngày thấp hơn loại thay ngày
- Đòi hỏi quy trình vệ sinh nghiêm túc mỗi ngày
- Cần khay đựng sạch và thay khay định kỳ
Tính từ ngày mở vỉ chứ không phải tính theo số lần đeo. Đây là điểm rất hay bị hiểu sai và là lý do nhiều người dùng quá hạn mà không biết.
Loại dùng dài ngày
- Thay theo quý hoặc lâu hơn
- Cần chăm sóc kỹ hơn vì cặn tích tụ nhiều
- Thường đi kèm dung dịch làm sạch chuyên biệt
- Ít phổ biến hơn trước
Nhóm này đòi hỏi kỷ luật cao nhất. Bỏ qua một bước làm sạch là cặn bám lại và tồn tại rất lâu.
Đeo liên tục và đeo qua đêm
- Một số loại được thiết kế cho phép đeo qua đêm
- Luôn cần chỉ định và theo dõi của bác sĩ
- Nguy cơ nhiễm trùng giác mạc tăng rõ rệt khi ngủ với kính
- Mắt nhắm làm giảm oxy và giảm trao đổi nước mắt
- Tự ý ngủ với kính thường là nguyên nhân của nhiều ca cấp cứu mắt
Đây là quy tắc ít có ngoại lệ nhất trong toàn bộ chủ đề kính áp tròng. Không được chỉ định thì không ngủ với kính.
Loại cho loạn thị và cho lão thị
- Kính cho loạn thị có cấu trúc giữ kính không xoay trên mắt
- Cần thời gian lắp thử lâu hơn để tìm loại ổn định
- Kính cho lão thị có nhiều vùng độ hoặc dùng cách chỉnh lệch hai mắt
- Không phải ai cũng thích nghi được với hai nhóm này
- Cần đánh giá và thử thực tế chứ không đặt theo thông số
Hai nhóm này thường cần vài lần điều chỉnh mới ra loại phù hợp. Kiên nhẫn trong giai đoạn thử là cần thiết.
Kính màu và kính thẩm mỹ
- Vẫn là thiết bị y tế dù không có độ
- Vẫn cần đo giác mạc và chỉ định như kính có độ
- Lớp màu nằm trong chất liệu kính, ảnh hưởng tới độ thấm oxy
- Hàng trôi nổi không rõ nguồn gốc là nguồn rủi ro lớn
- Không dùng chung với người khác trong bất cứ trường hợp nào
Không có độ không có nghĩa là không có rủi ro. Phần rủi ro nằm ở chỗ nó nằm trên giác mạc, chứ không nằm ở chỗ nó có chỉnh độ hay không.
Chọn loại nào cho mình
- Đeo thỉnh thoảng, vài lần một tháng thì loại thay ngày hợp lý nhất
- Đeo đều mỗi ngày và giữ được kỷ luật vệ sinh thì loại thay tháng phù hợp
- Loạn thị cao hoặc giác mạc bất thường thì cần khám chuyên khoa để cân nhắc kính cứng
- Khô mắt thì cần bác sĩ chọn chất liệu, đừng tự đổi theo lời mách
- Chơi thể thao thì ưu tiên loại ổn định và ít xê dịch
Điểm chung của mọi lựa chọn là phải qua khám và lắp thử. Sự khác nhau giữa các loại nằm ở mức phù hợp với mắt bạn, và chỉ có đo thực tế mới biết được.
Câu hỏi thường gặp
Loại thay theo ngày có tốt hơn loại thay tháng không?
Loại thay theo ngày giảm được khâu vệ sinh và giảm tích tụ cặn nên ít vấn đề hơn về mặt an toàn. Nhưng loại thay tháng vẫn an toàn nếu người dùng tuân thủ đúng quy trình và đúng lịch thay.
Kính cứng thấm khí có khó đeo không?
Giai đoạn làm quen khó hơn kính mềm và có thể mất vài tuần. Đổi lại nó cho độ nét tốt hơn ở một số trường hợp và bền hơn nhiều. Bác sĩ sẽ tư vấn khi nào nó là lựa chọn hợp lý.
Có loại nào đeo qua đêm được không?
Có một số loại được thiết kế cho việc đó, nhưng phải do bác sĩ chỉ định và theo dõi. Tự ý ngủ với kính không được chỉ định làm tăng đáng kể nguy cơ nhiễm trùng giác mạc.
Dùng quá hạn thay vài ngày có sao không?
Cặn protein và lipid tích tụ tăng dần theo thời gian, làm kính khó chịu hơn và tăng nguy cơ viêm nhiễm. Lịch thay là một phần của thiết kế sản phẩm, không phải gợi ý để kéo dài.