Nhiều người coi kính áp tròng như một phiên bản vô hình của kính gọng: cùng một độ, chỉ khác chỗ đặt. Thực ra khoảng cách mười hai milimet giữa hai chỗ đặt ấy thay đổi khá nhiều thứ, từ con số trên đơn cho tới cách bạn phải chăm sóc hằng ngày.
Vị trí đặt quyết định con số
- Kính gọng nằm cách giác mạc khoảng mười hai milimet
- Kính áp tròng nằm trực tiếp trên màng nước mắt phủ giác mạc
- Cùng một mắt, độ cần thiết ở hai vị trí này khác nhau
- Ở độ thấp chênh lệch nhỏ tới mức không đáng kể
- Ở độ cao chênh lệch đủ lớn để phải tính lại
Đây là lý do kỹ thuật đơn giản nhất giải thích vì sao hai loại đơn không thay nhau được.
Đơn kính áp tròng có thêm những gì
- Đường kính của kính, tính bằng milimet
- Độ cong nền, tức mức cong của mặt trong kính
- Tên sản phẩm và chất liệu cụ thể
- Chế độ thay, ví dụ thay theo ngày hay theo tháng
- Thời gian đeo tối đa mỗi ngày được khuyến nghị
Hai thông số đường kính và độ cong nền quyết định kính có ngồi vừa trên giác mạc hay không. Không có chúng thì không mua đúng được.
Vì sao phải đo giác mạc trước khi đeo
- Mỗi giác mạc có đường kính và độ cong riêng
- Kính quá chặt cản trao đổi oxy và nước mắt dưới kính
- Kính quá lỏng bị xê dịch, gây cộm và mờ theo nhịp chớp
- Bác sĩ đánh giá cả lượng nước mắt và chất lượng màng nước mắt
- Cần kiểm tra bề mặt mắt không có viêm hay tổn thương
Buổi khám để đeo kính áp tròng lần đầu khác hẳn buổi đo kính gọng. Nó có phần khám thực thể chứ không chỉ đo độ.
Vùng nhìn rộng hơn hẳn
- Kính áp tròng di chuyển theo mắt nên luôn ở đúng trục nhìn
- Không có rìa gọng cắt ngang tầm nhìn
- Liếc mắt ra hai bên vẫn nhìn qua kính
- Không có vùng méo ở rìa như đa tròng
- Phù hợp với thể thao và hoạt động cần quan sát rộng
Với người có độ cao, khác biệt về vùng nhìn là điều họ nhận ra ngay trong ngày đầu tiên.
Kích thước hình ảnh cũng khác
- Kính cận gọng làm vật trông nhỏ hơn thực tế
- Kính viễn gọng làm vật trông to hơn
- Kính áp tròng gần như không làm đổi kích thước
- Người có độ chênh nhiều giữa hai mắt được lợi rõ từ điều này
- Chuyển từ gọng sang áp tròng cần vài ngày để quen cỡ hình mới
Với người hai mắt lệch độ nhiều, kính gọng tạo ra hai ảnh khác cỡ khiến não khó ghép. Áp tròng giải quyết chuyện này tốt hơn.
Những tình huống áp tròng tiện hơn rõ rệt
- Chơi thể thao, nhất là môn có va chạm hoặc vận động mạnh
- Trời mưa, trời nồm, khi kính gọng mờ hơi nước
- Đeo mũ bảo hiểm, đeo khẩu trang lâu
- Công việc cần đeo thiết bị bảo hộ trùm mặt
- Khi muốn đeo kính râm thường mà không cần cắt độ
Nhiều người dùng áp tròng như phương án thứ hai chứ không thay hẳn kính gọng. Đó là cách dùng hợp lý và phổ biến.
Những chỗ kính gọng vẫn hơn
- Đeo vào tháo ra trong vài giây, không cần chạm vào mắt
- Không cần dung dịch, không cần quy trình vệ sinh hằng ngày
- Không có nguy cơ nhiễm trùng giác mạc do kính
- Che chắn phần nào bụi và gió cho mắt
- Dùng được cả khi mắt đang mệt hoặc hơi đỏ
Người đeo áp tròng vẫn cần một cặp kính gọng đúng độ. Đây không phải lựa chọn thay thế hoàn toàn mà là hai công cụ cho hai hoàn cảnh.
Yêu cầu về oxy cho giác mạc
- Giác mạc không có mạch máu nên lấy oxy trực tiếp từ không khí
- Kính áp tròng nằm chắn giữa nên ảnh hưởng tới nguồn oxy này
- Chất liệu hiện đại cho oxy đi qua tốt hơn nhiều so với trước
- Đeo quá lâu trong ngày vẫn làm giác mạc thiếu oxy
- Ngủ với kính chưa được chỉ định là việc rất không nên
Đây là điểm khác biệt căn bản nhất so với kính gọng và là lý do mọi quy tắc về thời gian đeo tồn tại.
Khô mắt và người dùng màn hình nhiều
- Nhìn màn hình làm tần suất chớp mắt giảm mạnh
- Ít chớp thì màng nước mắt phân bố kém
- Kính áp tròng nằm trên màng nước mắt nên nhạy với chuyện này
- Biểu hiện là cộm, mờ đi rồi rõ lại sau khi chớp
- Cần chủ động nghỉ mắt và cân nhắc dùng nước mắt nhân tạo theo tư vấn
Về việc dùng nước mắt nhân tạo loại nào và bao nhiêu lần, hãy hỏi bác sĩ mắt hoặc dược sĩ chứ đừng tự chọn theo quảng cáo.
Trẻ em và thiếu niên đeo áp tròng
- Không có mốc tuổi cứng, quan trọng là mức tự giác của trẻ
- Trẻ phải tự làm được toàn bộ quy trình vệ sinh
- Cha mẹ nên giám sát trong giai đoạn đầu
- Thể thao là lý do chính đáng nhất để cân nhắc
- Bác sĩ mắt là người quyết định có phù hợp hay không
Khả năng tuân thủ quy trình quan trọng hơn tuổi. Một đứa trẻ cẩn thận có thể an toàn hơn một người lớn cẩu thả.
Chi phí nhìn theo thời gian
- Kính gọng là khoản chi một lần cho vài năm
- Kính áp tròng là khoản chi lặp lại đều đặn
- Còn thêm dung dịch ngâm rửa và khay đựng
- Vẫn cần giữ một cặp kính gọng đúng độ
- Cần khám lại định kỳ để theo dõi bề mặt mắt
Điểm cần lưu ý không phải là loại nào tốn hơn mà là áp tròng tạo ra một dòng chi đều đặn và một nếp sinh hoạt phải duy trì.
Quyết định có nên thử hay không
- Bạn có sẵn sàng làm quy trình vệ sinh mỗi ngày không
- Môi trường làm việc của bạn có nhiều bụi, hoá chất không
- Bạn có bệnh mắt nào đang theo dõi không
- Bạn cần nó cho tình huống cụ thể nào
- Bạn có chấp nhận khám lại định kỳ không
Trả lời thật năm câu này trước khi đi khám thì buổi tư vấn với bác sĩ sẽ đi thẳng vào việc, và bạn cũng biết mình đang đổi cái gì lấy cái gì.
Câu hỏi thường gặp
Có thể lấy đơn kính gọng đi mua kính áp tròng không?
Không. Kính gọng nằm cách mắt khoảng mười hai milimet còn kính áp tròng nằm sát giác mạc, nên ở độ cao con số khác nhau đáng kể. Đơn áp tròng còn cần thêm đường kính và độ cong nền.
Đeo kính áp tròng có làm tăng độ không?
Bản thân việc đeo đúng độ không làm tăng độ. Độ thay đổi theo tuổi và theo cấu trúc mắt, không phụ thuộc bạn chọn chỉnh bằng kính gọng hay kính áp tròng.
Ai không nên đeo kính áp tròng?
Người đang viêm nhiễm mắt, khô mắt nặng, có bất thường ở giác mạc hoặc làm việc trong môi trường nhiều bụi, hoá chất. Bác sĩ mắt sẽ đánh giá cụ thể trước khi cho đeo.
Lần đầu đeo có cần khám không hay ra mua là được?
Cần khám. Ngoài đo độ, còn phải đo kích thước và độ cong giác mạc, đánh giá nước mắt và tình trạng bề mặt mắt. Kính không vừa với giác mạc gây khó chịu và có thể gây tổn thương.